Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa: Đâu là giá trị thực của tri thức?
- Sep 20, 2021
- 7 min read
Đới Tư Kiệt, một nhà văn gốc Trung lẫy lừng. Có thể nói, sự thành công vang dội ngay từ tác phẩm đầu tay được ông dựa vào sự kiện “tự cải tạo” của chính ông từ năm 1971 – 1974 trong cuộc Cách mạng văn hóa. Chính điều này đã thôi thúc ông viết nên tác phẩm Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa, lấy bối cảnh sự kiện có thật đó nhằm khắc họa nên một xã hội biến động không chỉ trong chính trị mà nó còn ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến sự ngưỡng cầu tri thức của cả một thời đại

Trung Quốc vào thập niên 60 – 70 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng văn hóa được tiến hành bởi Mao Trạch Đông. Xác suất ba phần ngàn cơ hội được trở lại thành phố luôn là một nỗi niềm tuyệt vọng của hai chàng trí thức trẻ là Lạc và “tôi”. Hai thanh niên bị liệt vào loại, con của những giai cấp tư sản trở thành “kẻ thù quốc dân” và tầng lớp trí thức là “những quyền uy học thuật thối tha”, họ bị tống đi học tập cải tạo cho chính sách ngu dân ở vùng núi cao chót vót với cái tên ra vẻ thơ mộng “Phụng Hoàng” nhưng thực chất là những làng xã thiếu thốn, lạc hậu và tăm tối. Cứ ngỡ, nỗi ám ảnh về viễn cảnh phải sống mòn đời trên vùng núi nghèo khó ngột ngạt bởi khí ẩm triền miên bởi những cơn mưa, sự khổ sai về thể xác khi phải ra ruộng cày, vác thùng phân hay nỗi quặn thắt khi đời mình sẽ chấm dứt ngay hầm than tối mịt, nỗi sợ ngày một lê thê khi xác suất về ba phần ngàn gần như trở thành một hằng số bất biến thì việc “tôi” và “Lạc” kết bạn được với “Bốn Mắt” và cô nàng thợ may huyện Vĩnh Kính đã tạo nên một bước ngoặt cho cả hai. Bốn Mắt – chứa một vali đầy những sách cấm về văn học phương Tây, khiến hai cậu chàng nhận ra rằng họ khao khát những quyển sách cũng như tri thức trên thế giới này đến nhường nào. Còn với cô bé thợ may – niềm yêu say mê, mãnh liệt của hai chàng trai trẻ tuổi đôi mươi, Lạc một lòng muốn những câu chuyện của Balzac hay Dumas sẽ giúp nàng tinh tế và văn hóa hơn. Nhưng rồi, nếu như hai chàng trai chỉ đem lòng mơ ước, thỏa mãn, vuốt ve những khối tri thức vô hình vượt ngàn vạn dặm ở phương Tây xa xôi tại vùng núi “Phụng Hoàng” tối tăm, lạc hậu thì cô bé thợ may, người sơn nữ chất phác, đáng yêu mà cả hai đêm lòng yêu thương giờ đây đã rũ bỏ làng quê u buồn và chạy theo sự khao khát về tri thức, cái đẹp và tự do.
Chủ đề truyện ngay từ lúc mở đầu đã mang một lối suy tư nặng nề, sắc màu nhuốm màu ảm đạm, u tối và tuyệt vọng của cả một thế hệ “trí thức” dưới con mắt chán chường của nhân vật “tôi” giấu tên. Một loạt sự kiện đầy vẻ độc tài và vô lý trong cách xét xử tội nhân, đóng cửa một loạt trường học, “tự cải tạo” bởi các bần cố nông và một loạt các hành động đốt sách Tây, cấm sách Tây và tuyên truyền lớp kiến thức nghèo nàn, chuyên chế càng khiến cho nhân vật “tôi” càng trở nên lạc lối và mờ mịt về tương lai. Đặc biệt, trong tư duy của một “trí thức trẻ” nửa vời như Lạc và “tôi” khi chỉ vừa mới biết đọc đã bị cấm học, chưa đọc thỏa sự học thì hàng loạt trường học bị đóng cửa, chưa trở thành một nhà “trí thức” chân chính thì bị bắt đi “tự cải tạo”, cũng chính bởi sự gián đoạn trên con đường tri thức đã khiến cho chủ đề của tác phẩm càng được phác họa một cách tinh tế. Như vậy, ta có thể thấy rõ thông điệp lớn lao xuyên suốt tác phẩm Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa chính là “sự khao khát tri thức của con người”, đến mức, cái giây phút mà họ chạm vào sách, có lẽ thánh thần cũng không còn ý nghĩa. Nhưng, “niềm khao khát” đó như một dòng chảy hài hòa, xuyên thấu vào toàn bộ khung truyện thì chính những tình tiết đặc sắc, những dụng ý tinh tế và đột phá của Đới Tư Kiệt đã đẩy thông điệp của tác phẩm lên mức chói sáng, nội dung của tác phẩm cũng vì thế cũng trở nên sâu sắc và đáng giá đến như vậy.
Đầu tiên là tình bạn ngẫu nhiên với anh bạn “Bốn Mắt”, người có một kho tàng sách vô giá, niềm ước ao của cả Lạc, “tôi” và cô bé thợ may. Trong khi tính cách của Lạc và “tôi” chiếm vài phần láu cá, liều lĩnh và cố chấp thì tính cách của cậu bạn “Bốn Mắt” được xem là một trở ngại, câu ta nhát gan, hay hoài nghi và đôi khi là tự cao, hách dịch. Chính sự ngăn trở này, đã khiến cho Lạc và “tôi” liều mình đánh cắp chiếc vali quý báu trước ngày “Bốn Mắt” được thả về thành phố. Trong đó, có một tình tiết khi “tôi” giả sử với Lạc rằng, nếu chiếc vali mở ra không phải là sách mà là tiền thì sao, thì chính câu trả lời ngay tắp lự và thẳng thắn của Lạc đã thể hiện được niềm sinh khí mãnh liệt và bất diệt của một sự tri thức khôn ngoan, hơn là những mưu cầu tưởng to lớn nhưng tầm thường, hèn mọn:
“Không. Tao chỉ thấy ghê tởm.”
“Tao cũng vậy. Ghê tởm bọn không cho mình biết những cuốn sách này.”
Hơn cả mọi danh vọng và quyền uy trên đời, tri thức với con người mới là chân lý. Tiền bạc, danh vọng, quyền lực tất cả đều chỉ là hão huyền, vì có thể, hơn ai hết những nhà trí thức hiểu rằng, tri thức mới là nguồn năng lượng sống, tri thức tạo dựng nên tất cả. Có tri thức ta có thể thể tạo nên tiền bạc, có tri thức ta mới bước vào ngưỡng cửa danh vọng và có tri thức ta mới có thể sống một cuộc đời ý nghĩa và trọn vẹn. Vì thế, đối với “tôi” và Lạc, hai thanh niên bị chính quyền chuyên chế khước từ mọi sự học hỏi tri thức, họ bị ép buộc, đọa đày vào một cuộc sống tăm tối, chán chường bởi cuộc sống quê mùa, lạc hậu, lo sợ và ám ảnh bởi những cái chết đơn độc và vô nghĩa. Đó là lí do, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến kiệt quệ, những trang viết của Balzac, Dumas, Dickens, Gogol,…khiến cho họ có thể tiếp tục sống, mơ ước và hi vọng về một cuộc sống khao khát tự do và tri thức.
Tiếp đó, vẻ như giây phút Lạc bình yên đến lạ khi chứng kiến cô bé thợ may bỏ chạy khỏi mỏm đá gập ghềnh nhằm rời bỏ vùng núi “Phụng Hoàng” đơn sơ để chạy theo những khao khát mới càng khiến ta phải suy ngẫm. Lạc bình thản nói:
“Cô ấy muốn ra thành phố. Cô ấy nhắc tới Balzac”
…
“Cô ấy nói đã học được một điều từ Balzac: rằng vẻ đẹp của phụ nữ là kho tàng vô giá.”
Nói đến đây, dường như mạch cảm xúc của câu chuyện bị đứt gãy, hoàn toàn. Một mối hoài nghi dấy lên một cách kinh ngạc. Xuyên suốt tác phẩm, tác giả luôn bồi đắp cho sự chống chế của tầng lớp trí thức trẻ là Lạc và “tôi” về một xã hội bất công, hà khắc và độc đoán. Cái cách họ luôn liều lĩnh làm những điều trái với luật lệ, những cuốn sách cấm phương Tây với họ còn hơn một cuốn thánh kinh, họ mê mẩn, khao khát và dường như bị khuất phục trước những dòng tư tưởng lãng mạn, mới mẻ và đầy tính hiện đại. Việc bồi thêm những chi tiết về những cuộc đánh liều như trộm sách, chép sách, ký tặng sách,…cùng những cảm xúc thăng hoa, thỏa mãn và một niềm hi vọng sôi sục trong tâm trí càng làm cho cốt truyện xuôi theo đúng chủ đề, rằng đề cao tri thức, tri thức chính là ngọn đuốc dẫn lối sự sống.

Nhưng đến khi, cả “tôi” và Lạc cảm nhận rõ ràng cảm giác mất đi người con gái mà hai người đem lòng yêu cũng chính bởi tầng lớp tri thức văn minh ấy, đã gián tiếp giết chết đi người con gái mộc mạc, giản dị. Bằng những câu chuyện của Balzac, Dumas cô bé thợ may với mắt long lanh ngây thơ ấy giờ đây cũng đầy sự khao khát của một thế giới phồn hoa, những giá trị tưởng cũ nhưng mới về “cái đẹp” của phụ nữ, tự do, tri thức. Để rồi, ta bắt đầu hoài nghi về những tinh hoa tri thức thế giới. Đâu mới là giá trị thực của sách? Đâu mới là chân lý đúng trong xã hội? Vậy rồi cái chế độ mà Mao Trạch Đông tạo dựng nên từng một thời khiến cả “tôi” và Lạc gần như ngạt thở là đúng hay sai?
Sau tất cả, tôi chỉ có thể nhận ra rằng, với “tôi” và Lạc sách là niềm an ủi, nguồn hi vọng bất tận trong một thế giới đen tối, đọa đày. Nhưng với cô bé thợ may người Trung Quốc ấy, những triết lý nhân sinh thấm đẫm tính tự do, lãng mạn không cùng thời đại, dân tộc đã vô tình giết chết đi sự ngây thơ, mộc mạc, chất phác của cô sơn nữ huyện Vĩnh Ký. Nhưng cuối cùng, hình tượng nguồn tri thức được Đới Tư Kiệt tạo nên trong tư tưởng của cô bé thợ may lại chính là một ngọn đuốc khai sáng cho vẻ đẹp, cho giá trị chân nguyên của con người.
Hạ Du



Comments