top of page

Ngôn Ngữ Điện Ảnh Trong Phim 1917 (P.1)

  • Sep 18, 2021
  • 16 min read

Updated: Sep 20, 2021

1. Sự bứt phá với đề tài quen thuộc trong 1917

Có thể thấy, so với các hạng mục phim được đề cử Irishman, Joker, The Two Popes và đặc biệt là Marriage Story, sự quảng bá phim 1917 ngay từ khi công chiếu đã im ắng hơn rất nhiều. Đề tài chiến tranh của phim với bối cảnh thế chiến thứ nhất cũng vô cùng quen thuộc, rất nhiều phim của nhiều quốc gia trên thế giới cũng làm về đề tài này. Chưa kể, bối cảnh chiến tranh của thế chiến nhất đã thuộc thời quá vãng, vì thế các phim thuộc đề tài này thường không còn quá hấp dẫn người xem với các motif quen thuộc, dễ đoán. Bản thân nội dung phim 1917 cũng khá đơn giản, chính vị đạo diễn Sam Mendes đã trình bày ngắn gọn: “Đó là câu chuyện về một người đưa tin có một thông điệp cần phải gửi. Và đó là tất cả những gì tôi có thể nói”.

Vậy, ta phải đặt ra một câu hỏi: Vì gì mà một bộ phim không được quảng bá rộng rãi, không có sự góp mặt của các ngôi sao nổi tiếng, không có một nội dung quá đặc sắc như 1917 lại được giới phê bình đánh giá cao và nhận được vô số giải thưởng danh giá như vậy? Với những ai đã từng một lần xem qua, chắc chắn, họ sẽ trả lời được câu hỏi với sự ấn tượng mạnh mẽ về ngôn ngữ hình ảnh xuất sắc và ngôn ngữ âm thanh bi tráng của tác phẩm. Đó là nguyên do phim lại ẵm trọn ba hạng mục xuất sắc về kỹ thuật làm phim, bao gồm: Quay phim xuất sắc nhất, Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất cùng Hòa âm hay nhất.

2. Ngôn ngữ hình ảnh - Kiệt tác trong một cú máy

Ra đời muộn hơn các loại hình nghệ thuật khác, điện ảnh may mắn kế thừa các yếu tố then chốt của các loại hình đi trước, trở thành loại hình nghệ thuật tổng hợp sống động, gần gũi, độc đáo. Điện ảnh chính là văn bản thị giác và thính giác, hay nói cách khác, điện ảnh là một chuỗi các hình ảnh tĩnh ghép lại với nhau tạo thành tính động. Tính động trong điện ảnh gần giống như loại hình vũ đạo nhưng độc đáo ở chỗ, tính động trong điện ảnh không chỉ phụ thuộc vào sự chuyển động của thực thể (diễn viên, cảnh vật,...) mà còn dựa vào nhiều yếu tố của quay phim (ánh sáng; màu sắc; góc máy; cỡ cảnh) và dựng phim (Montage).

Cũng không giống với văn học, điện ảnh không chuộng ngôn từ, điện ảnh yêu cầu hình ảnh. Với nội tâm nhân vật, điện ảnh buộc phải hình ảnh hóa bằng diễn xuất; với sự tường thuật, góc quay chính là kim chỉ nam dẫn đường; với thời gian phim, mọi không gian trong điện ảnh đều diễn ra ở thì hiện tại. Vậy nên, có thể tóm gọn lại, nếu văn chương cần một nhân vật dẫn dắt ta vào câu chuyện bằng ngôn từ thì điện ảnh buộc chính khán giả tự tham gia vào tác phẩm qua hình ảnh. Vì thế, điện ảnh buộc người thưởng thức phải dùng mắt để lưu giữ hình ảnh, dùng tai để ghi nhớ âm thanh với sự tập trung cao độ. Cũng chính vì vậy, kĩ thuật trong điện ảnh rất được chú trọng, nó là nơi cấu tạo nên xương sống, linh hồn và tầm nhìn của một tác phẩm điện ảnh.

Trở lại với 1917, bộ phim gây ấn tượng mạnh bởi quyết định táo bạo của đạo diễn khi quay toàn bộ phim chỉ với một cú máy duy nhất. Nghĩa là, quá trình quay phim sẽ hạn chế tối đa chuyện cắt cảnh để chuyển cảnh, ngừng diễn để nghỉ ngơi, dừng quay để chỉnh sửa sai phạm. Và càng phải nhấn mạnh rằng, việc quay một cú máy từ đầu đến cuối phim đồng nghĩa với việc mọi diễn xuất, thiết kế mỹ thuật (không gian, bối cảnh; đạo cụ; phục trang; hóa trang) đều phải hoàn hảo. Nếu không, phim buộc phải quay lại từ đầu để sửa chữa mỗi lỗi lầm xảy ra trong quá trình quay. Nói như thế để hiểu rằng, ngay từ đầu vị đạo diễn Sam Mendes đã lựa chọn một cách quay hết sức táo bạo và thách thức toàn bộ nhà làm phim và dàn diễn viên.

Mở đầu phim là cảnh quay một cánh đồng hoa bao la, màu sáng tươi sáng. Máy quay lui dần về sau và xuất hiện hình dáng hai người lính đang nằm nghỉ trên bãi cỏ. Hình ảnh hai chàng thanh niên tuổi vừa đôi mươi trong một không gian tươi mới, ánh sáng chan hòa phần nào khắc họa được tuổi trẻ cùng tâm hồn lãng mạn của hai người lính.

Hai người lính đi về phía trước, góc quay đối diện lùi về sau, không gian xung quanh mở rộng bao la xa tít tắp. Hai bên lối đi là nhiều người lính xung quanh đang ngồi từng cụm nhỏ đang trò chuyện với nhau, cho thấy một viễn cảnh rất nhiều người đã dùng tuổi trẻ ra chiến trường. Càng về sau, màu sắc phim càng ảm đạm, không gian chiến hào nhỏ hẹp, đường vào hun hút. Lúc này góc quay cận cảnh vào lối đi nhỏ hẹp, đông nghịt người, làm nổi bật sự chật hẹp của không gian. Vào càng sâu, hai bên chiến hào càng cao, sự vụn vỡ, đổ nát của các lớp đất; màu sắc tối dần tạo cảm giác tối tăm, khắc nghiệt, đổ vỡ của chiến tranh.

Tuy sử dụng một cú máy cho toàn cảnh, việc di chuyển và chuyển cảnh trong phim được giữ được sự ổn định, việc chuyển tiếp các góc quay từ nhân vật này đến nhân vật khác rất nhịp nhàng, khéo léo. Khi cả hai người lính được triệu tập đi xuyên qua thành lũy thì không gian chuyển sang bối cảnh mới, phòng chỉ huy. Góc máy ban đầu quay ở phía chính diện hai người lính, nhưng đến một khúc rẽ sang trái của chiến hào, máy quay đã dừng lại một vài giây để chuyển sang góc quay phía sau để bố trí cho việc nắm bắt hình ảnh của vị chỉ huy ở bối cảnh tiếp theo. Tiếp đến, góc quay vẫn giữ vị trí như cũ, ở phía sau lưng hai người lính. Đến lúc bàn bạn vị trí, máy quay lia nhẹ xuống bản đồ phía trước và hai người lính từ góc khuất vòng ngược lên phía trước, cho đến khi máy quay hướng lên thì cả hai đã ở phía đối diện. Như thế, việc máy quay được phối hợp linh hoạt với hoạt động của nhân vật như vậy hạn chế việc các các diễn viên quay lưng lại trực tiếp với máy quay. Việc sử dụng một máy quay chứa đựng rất nhiều nhược điểm, vì vậy việc hợp tác với sự chuyển động của máy là cực kỳ quan trọng. Máy quay liên tục nhưng phải thực uyển chuyển, nhịp nhàng.

Từ 8’20’’, nhịp phim nhanh hơn kèm với tiếng nhạc đệm dồn dập, báo hiệu nhiệm vụ gấp rút của hai người lính bắt đầu. Theo mỗi bước đi vội vàng của Blake, góc quay cũng không còn ổn định như đầu phim, ngược lại nhanh hơn, đảo máy theo mỗi hành động luồn lách của cả hai người lính qua đám lính ở chiến hào nhỏ hẹp. Qua đó, kết hợp với hành động vội vàng, đoạn hội thoại tranh cãi, nhạc nền thúc bách, cùng màu sắc ảm đạm, nhịp phim được đẩy nhanh, tạo đà phát triển cho hành trình gian nan tiếp theo. Tất cả các yếu tố tạo đều mang tính dự báo về sự nghiêm trọng, nguy hiểm, cấp bách của nhiệm vụ phía trước.

Ở phút thứ 16’33’’, nhạc phim dồn dập kết thúc, góc quay chuyển tiếp sang phía sau hai người lính chuẩn bị cho sự rời khỏi thành lũy của mình. Không khí lúc này trở nên im lặng, duy chỉ có tiếng hơi của cả hai người lính, hít lấy sự can đảm trong lồng ngực và trèo ra khỏi chiến hào. Nhịp quay cũng chậm rãi theo từng hành động trườn bò, bước đi cẩn thận của hai người. Góc quay tiếp tục quay ngang hông hai nhân vật, xuyên qua hàng rào gai chằng chịt và các hào đất trũng.

Điều thú vị là góc quay từ lúc này về sau để là góc toàn cảnh và viễn cảnh đan xen nhau, đây được xem là góc nhìn của thượng đế. Với góc quay toàn cảnh, ta hoàn toàn thấy được hành động của hai người lính, vừa thấy được quang cảnh hiểm trở, hoang tàn xung quanh. Góc quay viễn cảnh, cho thấy bóng dáng cô độc, nhỏ bé của người lính trước trận mạc rộng lớn đầy những chết chóc, điêu tàn. Qua đó, việc sử dụng góc quay phần dễ dàng nhận biết được tình thế khó khăn của nhân vật, phần chứng kiến được hiện thực tàn khốc của chiến tranh.

Ở ngoài chiến trường, góc máy quay toàn cảnh nhưng khi vào không gian nhỏ hẹp hơn như vào trong căn cứ của Đức ở phút thứ 26’, góc quay chuyển tiếp về trung cảnh, ngang hông nhân vật, tạo cho người xem cảm giác mình như một người lính thứ ba đang song hành cùng hai nhân vật còn lại. Nhịp quay lúc này chậm rãi, đặc biệt máy dừng lại ở một vài chi tiết nhỏ như bức ảnh dán trên giường sắt (26’29’’); con búp bê ở ngôi nhà hoang (40’40’’) gợi một sự thật tàn khốc: Dẫu là ta, là địch, tất cả đều là những con người rời xa gia đình để chiến đấu. Họ khao khát hòa bình và trở về với gia đình. Chiến tranh cũng mang đến chết chóc, kể cả những sinh linh nhỏ bé vô tội, bất kì ai cũng có thể không thoát khỏi chuyện sinh tử trong các cuộc chiến không từ mình.

Điều thú vị là góc quay từ lúc này về sau để là góc toàn cảnh và viễn cảnh đan xen nhau, đây được xem là góc nhìn của thượng đế. Với góc quay toàn cảnh, ta hoàn toàn thấy được hành động của hai người lính, vừa thấy được quang cảnh hiểm trở, hoang tàn xung quanh. Góc quay viễn cảnh, cho thấy bóng dáng cô độc, nhỏ bé của người lính trước trận mạc rộng lớn đầy những chết chóc, điêu tàn. Qua đó, việc sử dụng góc quay phần dễ dàng nhận biết được tình thế khó khăn của nhân vật, phần chứng kiến được hiện thực tàn khốc của chiến tranh.

Ở ngoài chiến trường, góc máy quay toàn cảnh nhưng khi vào không gian nhỏ hẹp hơn như vào trong căn cứ của Đức ở phút thứ 26’, góc quay chuyển tiếp về trung cảnh, ngang hông nhân vật, tạo cho người xem cảm giác mình như một người lính thứ ba đang song hành cùng hai nhân vật còn lại. Nhịp quay lúc này chậm rãi, đặc biệt máy dừng lại ở một vài chi tiết nhỏ như bức ảnh dán trên giường sắt (26’29’’); con búp bê ở ngôi nhà hoang (40’40’’) gợi một sự thật tàn khốc: Dẫu là ta, là địch, tất cả đều là những con người rời xa gia đình để chiến đấu. Họ khao khát hòa bình và trở về với gia đình. Chiến tranh cũng mang đến chết chóc, kể cả những sinh linh nhỏ bé vô tội, bất kì ai cũng có thể không thoát khỏi chuyện sinh tử trong các cuộc chiến không từ mình.

Sau khi thoát khỏi cái bẫy trong hầm trú ẩn của quân Đức, hai người lính băng qua một khu rừng, màu sắc lúc này tươi sáng trở lại, tương phản rõ rệt với màu sắc u tối khi nãy. Cánh đồng bát ngát xanh, vườn bông hoa trắng, những cuộc tán gẫu thường ngày của đôi bạn, không khí phim nhẹ nhàng, chậm rãi.

Đây có thể xem là một trong những “khoảng thở” của nghệ thuật quay phim “one shot”. Việc kéo dài các tình huống căng thẳng, dồn dập và không ngơi nghỉ của nhiệm vụ, bản thân khán giả cũng cảm thấy cạn hơi hay nghẹt thở vì không hề có khoảng dừng trong phim. Vì thế, cũng giống trong hội họa, việc tạo khoảng trống cho đầu óc cả người thưởng thức là một điều cần thiết. Đó là lý do vì sao, phim ngoài khung cảnh chiến tranh khắc nghiệt vẫn xen kẽ vào đó những cảnh đẹp rất thơ, khiến nhiều người cho rằng, bộ phim không thực sự chân thật mà còn hơi hướng lãng mạn.

Sau khi thoát khỏi cái bẫy trong hầm trú ẩn của quân Đức, hai người lính băng qua một khu rừng, màu sắc lúc này tươi sáng trở lại, tương phản rõ rệt với màu sắc u tối khi nãy. Cánh đồng bát ngát xanh, vườn bông hoa trắng, những cuộc tán gẫu thường ngày của đôi bạn, không khí phim nhẹ nhàng, chậm rãi.

Sau cái chết của Blake, Schofield tiếp tục lên đường để thực hiện nhiệm vụ. Khung cảnh lúc này tập trung vào cuộc trò chuyện của nhóm những người lính ở tứ phương, đa dân tộc. Theo lời một anh lính, máy quay chuyển sang con đường dài hun hút, quang canh vắng lặng, hoang tàn, khói bốc lên từng mảng đen. Hình ảnh gợi lên trong ta sự kéo dài vô tận của những cuộc chiến phi nghĩa, những người lính lạc lõng với mục đích chiến đấu, nhạc nền du dương vang lên làm cho quang cảnh vừa ảm đạm vừa bi thương.

Sau pha đọ súng với một tên địch trong khu nhà hoang, việc cả hai bắn đối diện vào nhau khiến Schofield bị đẩy ngã xuống bậc thang, không gian tối đen. Máy quay tại lúc này (1’06’’19) dừng lại và tối đen. Âm thanh “tách”, “tách” của hạt mưa đánh động đến không gian tối đen, sau đó đột ngột bật lên tia sáng trắng xanh trên gương mặt dần tỉnh lại của Schofield. Màu sắc lúc này tối đen như mực, chỉ le lói một chút tia sáng như gợi lên hy vọng cho sự sống của người lính. Tiếp theo chính là trò chơi của ánh sáng, một loại nghệ thuật ánh sáng vô cùng mãn nhãn xoay quanh hai tông màu chủ đạo: Đen, vàng. Đây cũng là ý niệm của màu chiến tranh và khói lửa.

Những vệt sáng, vệt bóng đổ di chuyển liên tục từ phía này sang phía khác cho thấy sự chuyển động vô cùng đã mắt của ánh sáng, kèm theo nền nhạc hơi hướng bi tráng càng khiến khung cảnh vừa hãi hùng, vừa ảo diệu đến cực điểm. Máy quay di chuyển đến khung cửa sổ và quay từ trên cao xuống, kết hợp với những mảng tường sừng sững và sự chuyện động của ánh sáng khiến ta cảm nhận khung cảnh trước mắt như một sân khấu kịch được dựng ngay chính giữa trận mạc, ngay giữa cuộc đời của người lính Schofield. Và trên sân khấu đó, anh như hóa thành một diễn viên thực thụ đang thực hiện việc công việc diễn xuất của mình. Ánh sáng vàng lóa mắt khiêu vũ liên tục trên nền đen, tư thế chạy giữa cơn mưa đạn vừa hào hùng vừa gian khổ trước sự rình rập chết chóc của chiến tranh. Anh là diễn viên chính của sân khấu kịch này, ánh đèn từ trên cao rọi xuống mọi chuyển động của anh, tạo nên những mảng tối sáng trên bộ quân phục càng khiến hình tượng người lính trở nên sống động vô cùng.

Với nhịp phim liên tục và dồn dập, sau cảnh chạy thoát khỏi sự rượt đuổi của máy bay địch, Scotfield gặp được một gia đình nhỏ đang cư ngụ trong một ngôi nhà đổ nát gần đó. Đây là khoảng thở tiếp theo, vừa đủ.

Anh lại tiếp tục lên đường và bắt gặp thêm hai tên địch, cuộc rượt đuổi lại bắt đầu, nhịp phim nhanh trở lại. Màu sắc có sự thay đổi đột ngột. Từ tông màu nóng, chói sáng chuyển sang tông màu âm tính, xanh nhạt, tạo cảm giác lạnh lẽo. Việc thay đổi nhanh chóng như vậy cho thấy sự hiểm trở không lường trước của cuộc đời. Từ hành động anh nhảy xuống sông, bị cuốn trôi theo con thác, máy quay đã có sự chuyển động linh hoạt khi cùng nhân vật nhạy xuống tạo bọt sóng tràn ngập cảnh quay và máy quay từ trên cao xuống con thác và hạ thấp dần.

Hành trình vẫn chưa kết thúc kể cả khi anh đã thấy được Lữ đoàn 2. Máy quay từ trên cao quay xuống cho thấy một đoàn dài người vô tận đang chuẩn bị ra quân từ chiến lũy.

Kết phim, Schofield lại đi đến ngồi bên gốc cây với cánh đồng trải rộng trước mắt. Hình ảnh này làm ta liên tưởng đến mở đầu phim, cả hai người lính Blake và Schofield cũng đều thong thả nghỉ ngơi ở đó. Bây giờ cũng thế, nhưng Blake đã không còn, Schofield cũng vừa mới đi qua cửa tử. Ánh sáng phim đã có sự tươi sáng trở lại nhưng tông màu vàng nhạt, ấm nóng gợi cảm giác đau buồn, mất mát.

Xét về ưu điểm, quay phim với một cú máy duy nhất tạo độ chân thực như chính người thưởng thức cùng tham chiến. Vì cuộc đời thực sẽ diễn ra một cách liên tục, không để bất kì ai phải ngơi nghỉ và đạo diễn Sam Mendes cũng muốn bạn cảm nhận trọn vẹn chiến tranh như vậy. Chính ông đã từng chia sẻ: “Tôi có suy nghĩ này, rằng ‘sao chúng ta không nhốt khán giả vào trong trải nghiệm của những chàng trai đó theo một cách khiến họ cảm thấy không bị gián đoạn chút nào, trong một bộ phim như phim kinh dị mà mỗi giây trôi qua đều giống như thời gian ngoài đời thực?

Cũng vì sự tâm huyết đó mà Sam Mendes đã chọn một cách quay táo bạo. Bản thân nhiều khán giả khi xem phim có nhiều ý kiến về cách quay này như ví von phim như một trò chơi điện tử bắn súng hay một cú máy khiến nhân vật Schofield trở thành một vận động viên điền dã. Tất nhiên, những nhận định về tính chất của hiệu ứng một cú máy khá giống với những sự so sánh trên, nhưng dù phim vận động theo một đề tài, nội dung quen thuộc thì không mấy phim có thể giữ ánh mắt, nhịp tim, hơi thở của khán giả hòa điệu cùng nhân vật. Đây chính là sự bứt phá của nghệ thuật quay một cú máy này. Nhưng bên cạnh đó, cách quay phim này mang trong mình nhiều thách thức và ẩn chứa nhiều bất cập dễ bị phạm phải. Đầu tiên là cách quay này yêu cầu sự chỉn chu, kỹ lưỡng đến mức hoàn hảo. Một lỗi sai sẽ khiến mọi công sức trước đó đều tiêu tan. Thứ hai, sự liên tục của một cú máy khiến phim cảm giác lê thê, hoặc nếu nhịp phim quá dồn dập sẽ khiến khán giả dễ bị nghẹt thở. Vì thế, bản thân kịch bản phim phải tạo được đủ khoảng trống, khoảng dưỡng sức cho người thưởng thức. Thứ ba, cách quay này yêu cầu sự linh hoạt, khéo léo, sự phối hợp uyển chuyển của tất mọi yếu tố trên trường quay. Nếu không dễ tạo cảm giác đứt gãy logic của mạch phim và mạch cảm xúc của khán giả.

Không gian phim diễn ra vào một khoảng thời gian ngắn, nhưng lại mang đến cho ta cảm giác dài hơi nhờ tính sử thi của đề tài và kĩ thuật quay một cú máy. Mendes chia sẻ: “tôi muốn tác phẩm diễn ra từ chiều đến tối, rồi sau đó là từ tối đến bình minh. Tôi muốn nó diễn ra ở hai thời điểm... Tôi muốn đưa nó đi đến nơi giống như là một ảo giác. Một nơi nào đó siêu thực hơn, gần giống như giấc mơ. Và nó cũng thật là khủng khiếp”. Từ đây, màu sắc chủ đạo của phim là màu đen và vàng. Tuy thế, nhà làm phim không đơn nhất khi chỉ khoác lên hai màu với ý niệm của sự u tối, đổ nát, máu lửa, chết chóc như trước đây mà có một phân đoạn, sự chuyển động tinh tế của hai màu đó khiến cảnh phim khoác lên một lớp màu nhiệm, ma mị và siêu thực, khiến ta có cái nhìn rất khác về ý niệm của hai màu sắc đó trong chiến tranh.

Bàn một chút về diễn viên, tuy hệ thống nhân vật phim quy mô (khoảng 500 diễn viên quần chúng), nhưng xét riêng về hai nhân vật người lính Will Schofield (George MacKay) và Tom Blake (Dean Charles Chapman), mỗi nhân vật đều được xây dựng hình tượng nhân vật khá thuyết phục.

Tom Blake là một người lính trẻ nhiệt huyết, năng nổ nhưng còn non dạ, trong khi Schofield trầm tính, thận trọng và có đủ kinh nghiệm và nhận thức rõ về sự tàn khốc, vô nghĩa của chiến tranh. Đó là lý do vì sao mỗi suy nghĩ, hành động của anh đều thận trọng hơn người bạn đồng hành của mình. Ngược lại, vì tính xông xáo và có phần non nớt, mềm yếu trước đối thủ, Blake đã bị đâm sau khi cậu muốn cứu một tên địch. Cũng vì sự khắc nghiệt của những trận chiến trước đó, Schofield có cái nhìn lãnh đạm với tấm huy chương mà với Blake lại cao quý. Và Schofield hiểu rõ một điều, trên chiến trường, sự sống quan trọng hơn mọi chiến công, cũng vì thế mà cậu đã đổi miếng thiết để lấy một chai rượu vang, cậu chỉ muốn được duy trì mạng sống để trở về nhà, chứ không phải một chiếc huy chương và vùi mình trong một cuộc chiến vô nghĩa. Chính sự tương phản giữa hai tính cách của hai người lính, người này làm nổi bật tính cách của người kia. Và ở mỗi nhân vật cũng cho thấy thế giới quan của thế hệ người lính trong thời thế đó.

Về khâu thiết kế mỹ thuật, việc xây dựng không gian đổ nát, tàn sát với đầy rẫy xác chết trên một vùng đất trống, xương và máu xuất hiện xuyên suốt chuyến đi của người lính Schofield, bối cảnh đó đã gây được hiệu ứng mạnh vô cùng mãn nhãn với thị giác. Sự chuyển đổi không gian diễn ra liên tục, mỗi không gian đều được bố trí hết sức đặc trưng như cảnh đầu những chiến hào nhỏ hẹp, đổ nát; trận mạc đầy bùn nhơ, hố bom ngập nước, hàng kẽm gai cùng đầy rẫy xác chết; trang trại bị bỏ hoang; những nhà thờ bị tàn lụi bởi bom đạn, mù mịt trong khói lửa và bờ sông đầy xác chết cạnh khu rừng. Kết hợp với ánh sáng, thiết kế mỹ thuật càng chuẩn xác, càng thành công đồng nghĩa với việc một thế giới nghệ thuật được tái tạo song song với hiện thực đủ thuyết phục để mê luyến, dẫn dắt khán giả xâm nhập vào tác phẩm, và 1917 đã làm được điều đó.

Như vậy, chỉ với một cú máy quay, kỹ thuật dựng phim (montage) riêng trong 1917 không được chú trọng quá nhiều. Thay vào đó, mọi sự chuẩn bị, sắp xếp và thực hiện mỗi một cảnh quay trong phim đều phải nhịp nhàng, uyển chuyển, đồng loạt như đang thực hiện trò chơi Domino vâỵ. Tuy bản thân kĩ thuật quay one shot ẩn chứa rất nhiều bất cập, nhưng bằng sự tài năng của đạo diễn Sam Mendes và sự khéo léo của nhà làm phim, họ đã thuyết phục và tạo dấu ấn trong lòng khán giả bởi những cảnh quay, hiệu ứng mĩ thuật vô cùng mãn nhãn.

(Còn tiếp)

Hạ Du

Comments


©2021 by Ngọc Vỹ Writer. Proudly created with Wix.com

bottom of page